Ngày nay, số lượng người mắc bệnh trầm cảm đã lên đến mức báo động. Theo thống kê, khoảng 1/5 nữ giới và 1/15 nam giới từng mắc bệnh trầm cảm ít nhất một lần trong đời. Và hơn một nửa số đó phải tiếp tục phát bệh ít nhất 1-2 lần mỗi năm.
Trầm cảm là một bệnh rối loạn tâm thần, có thể xảy ra ở nhiều lứa tuổi, nhưng phổ biến nhất là 18 - 45 tuổi, phụ nữ bị nhiều hơn nam giới (3% nam giới, 9% nữ giới), bệnh tiến triển kéo dài và rất dễ tái phát. Trầm cảm là một bệnh lí nghiêm trọng, ảnh hưởng đến suy nghĩ, cảm xúc, thái độ cư xử và sức khỏe bệnh nhân; chứ không phải là một sự yếu đuối.
Dấu hiệu bệnh trầm cảm
1) Mất ngủ: khó vào giấc ngủ, hay thức giấc giữa đêm không ngủ lại được, hoặc thức dậy từ hai - ba giờ sáng, kèm theo bồn chồn khó chịu (có khi ngủ nhiều quá mức).
2) Chán ăn: ăn ít, ăn không ngon, không thích ăn, sợ ăn (có khi ăn nhiều quá mức), không ăn, sút cân.
3) Ngại giao tiếp với người khác, trở nên ít nói bất thường, lười vận động.
4) Cảm thấy bồn chồn lo âu, đứng ngồi không yên, đau đầu, đau mỏi toàn thân, đau ngực, táo bón, sợ lạnh.

5) Cảm thấy mệt mỏi, suy nghĩ chậm chạp, buồn rầu, mất hứng thú làm việc, mất hứng thú giải trí hàng ngày (thể thao, xem ti vi, sách báo, phim... ). Cảm thấy xung quanh buồn rầu ảm đạm, thời gian kéo dài lê thê.
6) Bi quan lo lắng về tương lai cho bản thân và gia đình, sợ điều xấu xảy ra cho bản thân và gia đình.
7) Nghĩ rằng mình không xứng đáng với bản thân và xung quanh. Cho rằng mình phạm nhiều khuyết điểm, tội lỗi, không muốn tiếp xúc với ai.
8) Nghĩ rằng mình không xứng đáng được ăn, không xứng đáng được sống, cho rằng mình là gánh nặng cho mọi người.
9) Có ý nghĩ chết chóc, muốn tự sát, treo cổ, nhảy lầu, đâm vào xe...
Tuy nhiên, để biết chắc có bị bệnh trầm cảm không, cần đến bác sĩ chuyên khoa tâm thần để thăm khám và được tư vấn. Việc phát hiện và điều trị bệnh sớm góp phần rất tích cực, nâng cao hiệu quả phục hồi cho người bệnh.
Nguyên nhân bệnh trầm cảm
Có rất nhiều nguyên nhân, nhiều bệnh nhân lại tự nhiên mắc bệnh mà không thấy có liên quan gì tới bất kì một khủng hoảng nào trong cuộc sống.
- Bệnh do một biến cố trong quá khứ xảy ra lâu dài nên từ tâm lí tác động lên thể lí (thực thể).
- Bệnh nhân rất đau khổ và hay lo sợ, sợ một cái gì đó thành ra ám ảnh.
- Bệnh trầm cảm rất khó chữa. Cần tìm ra nguyên nhân sâu xa dẫn tới trầm cảm mới có tác dụng tốt.
- Người bệnh thường hay sợ nên dẫn đến đau khổ trong tâm hồn nhưng không mấy ai hiểu, chia sẻ và giúp đỡ.
Điều trị bệnh trầm cảm
Bệnh trầm cảm đáp ứng tốt với điều trị, khoảng 80% bệnh nhân trầm cảm nặng có thể cải thiện và trở lại cuộc sống bình thường chỉ trong vòng vài tuần lễ; với những bệnh nhân có nguy cơ bị trầm cảm trở lại thì phải điều trị liên tục và kiểm soát bệnh tốt. Có 3 phương pháp điều trị cơ bản là: dùng thuốc, điều trị tâm lí liệu pháp và sốc điện. Có thể điều trị riêng rẽ hoặc kết hợp các phương pháp này. Sự cải thiện có thể được xác định một cách chắc chắn sau 3-4 tuần điều trị. Cần lưu ý các thuốc chống trầm cảm không hề gây cho bệnh nhân đờ đẫn; việc điều trị bằng thuốc chống trầm cảm cần phải tương hợp với cuộc sống bình thường, khi dùng thuốc có thể gặp một số tác dụng phụ cần thông báo ngay cho bác sĩ điều trị.
Bệnh trầm cảm có thể được điều trị bằng thuốc hoặc bằng tâm lý, hoặc phối hợp cả hai phương pháp cùng lúc. Trường hợp trầm cảm nhẹ được điều trị ngoại trú. Những trường hợp sau cần phải nhập viện để điều trị: có ý tưởng tự sát, nhất là đã có lần định tự sát thực sự; trầm cảm không đáp ứng với thuốc; trầm cảm kèm theo tình trạng loạn thần, người bệnh khi ấy có thể có thêm triệu chứng ảo giác và hoang tưởng, không thể kiểm soát bản thân cả về suy nghĩ lẫn hành vi.

Trong quá trình điều trị, người nhà cần giúp bệnh nhân (BN) luôn tuân thủ đúng chỉ dẫn của bác sĩ
- BN cần được sự đồng cảm, giúp đỡ của mọi thành viên trong gia đình. Gia đình là chỗ dựa về tinh thần, giúp BN tự tin thổ lộ với mọi người về những căng thẳng, không cảm thấy cô đơn.
- Các thành viên trong gia đình cần hiểu rằng trầm cảm là một bệnh tâm thần hay gặp, không phải là bệnh nan y, có thể chữa khỏi hoàn toàn bằng tâm lý và thuốc. Người nhà tránh thái độ quá lo lắng về bệnh tật của BN khiến BN thêm bất an, cho là bệnh của mình quá nặng và khó chữa.
- Cho BN ăn những thức ăn dễ tiêu, giàu năng lượng, hợp khẩu vị. Nếu có thể thì cho BN ăn theo chế độ tự chọn trong thời gian đầu điều trị.
- Nếu BN bị mất ngủ, không nên cho BN ngủ trưa. Không cho BN đi ngủ quá sớm. Tránh để BN nằm trên giường suốt ngày, vì như thế sẽ làm mất ngủ nặng thêm. Yêu cầu BN đi lại, vận động, nhưng tránh vận động nhiều vào buổi tối (vì sẽ gây khó ngủ).
- BN trầm cảm hay mệt mỏi suốt ngày, đặc biệt buổi sáng họ luôn than phiền về điều này, nên cần động viên BN tập vận động. Bắt đầu là việc ngồi dậy, đứng lên, đi lại nhẹ nhàng trong nhà; khi đã quen có thể yêu cầu BN làm các công việc đơn giản, nhẹ nhàng như nhặt rau, nấu cơm, quét nhà. Cũng nên yêu cầu BN tập các môn thể thao trước đây BN yêu thích như cầu lông, bóng bàn, bơi lội hoặc tham gia các sinh hoạt cộng đồng.
- Cần luyện sự chú ý, trí nhớ: có thể đọc cho BN nghe những mẩu truyện ngắn, những bài thơ hay mà BN yêu thích. Sau đó, yêu cầu BN đọc các bài báo, xem ti vi, nghe đài..., thời lượng nên tăng dần để tránh làm BN mệt mỏi, chán nản.
- Tái khám: Bệnh trầm cảm hay tái phát nên giữ liên lạc thường xuyên với bác sĩ, báo cho bác sĩ biết về tình trạng của BN. Sau một - hai tháng điều trị, BN đã ổn định nên sinh ra tâm lý chủ quan, cho rằng mình đã khỏi bệnh. Vì vậy, họ không đến khám bệnh nữa và bỏ điều trị củng cố. Điều này rất nguy hiểm vì bệnh rất dễ tái phát. Khi bệnh tái phát, thường phải mất nhiều công sức điều trị hơn và thời gian điều trị củng cố cũng phải kéo dài hơn trước rất nhiều.
Những điều cần lưu ý trong quá trình điều trị:
+ Không nên cố gắng làm việc bằng bất cứ giá nào.
+ Không nên lấy lý do bị trầm cảm để bào chữa cho các vấn đề khó khăn của bản thân trong công việc.
+ Không nên đưa ra những quyết định có tính chất ảnh hưởng đến tương lai trong thời gian đang điều trị.
+ Không nên ngưng việc.
+ Không uống bia, rượu với bất kì lí do nào.
+ Không ngưng thuốc đang dùng hoặc tự ý tiếp tục dùng thuốc mà không có ý kiến của bác sĩ điều trị.
Để phòng bệnh trầm cảm, mọi người cần cố gắng tạo cho mình một cuộc sống hài hòa, vui vẻ, một lối sống lành mạnh, đặc biệt phải thường xuyên vận động cơ thể một cách hợp lý. Mặt khác, bạn không nên sống khép mình, cần gặp gỡ, tiếp xúc với nhiều người, khi đó cảm giác cô đơn, tuyệt vọng sẽ dần vơi đi và ý muốn chia sẻ với mọi người cũng sẽ dần tăng. Và như thế lâu dần, chứng trầm cảm sẽ giảm một cách hiệu quả.